New Page 1
 
Kích thích buồng trứng trong các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

 Tỉ lệ thành công của các chu kỳ hỗ trợ sinh sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó, số lượng và chất lượng nang noãn giữ vai trò rất quan trọng. Tỉ lệ thành công của các chu kỳ hỗ trợ sinh sản cao hơn khi có kích thích buồng trứng. Chỉ định chính của kích thích buồng trứng gồm những trường hợp (1) vô sinh do không phóng noãn, rối loạn phóng noãn hay (2) kích thích buồng trứng để thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Các biến chứng cần quan tâm khi kích thích buồng trứng để điều trị hiếm muộn là quá kích buồng trứng và đa thai. Các biến chứng này xảy ra thường do sự đáp ứng quá mức của buồng trứng, dẫn đến số lượng nang noãn quá nhiều. Ngược lại, nếu nang noãn phát triển quá ít, hiệu quả của chu kỳ điều trị cũng bị giảm. Như vậy, để hạn chế các biến chứng mà kết quả chu kỳ điều trị chấp nhận được, trước khi tiến hành kích thích buồng trứng, cần xem xét kỹ đối tượng bệnh nhân và cân nhắc kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thực hiện mà chúng ta có những mục tiêu đạt được về số lượng nang noãn khác nhau, từ đó, chọn lựa thuốc và phác đồ kích thích buồng trứng phù hợp. Những cải tiến trong lĩnh vực dược phẩm, với sự ra đời của FSH tái tổ hợp, gần đây là các thuốc GnRH đối vận đã đem lại an toàn, hiệu quả và thuận tiện cho cả bệnh nhân và bác sĩ khi sử dụng kích thích buồng trứng. Trong bài này, chúng tôi xin trình bày các phác đồ kích thích buồng trứng hiện đang được sử dụng trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Kích thích buồng trứng để bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI) Với IUI, kích thích buồng trứng thường được áp dụng cho các bệnh nhân bị rối loạn phóng noãn. Ở các bệnh nhân này, cần ít nhất một nang trưởng thành có phóng noãn để đạt được hiệu quả điều trị. Do đó, chọn lựa phác đồ KTBT trong IUI cần phù hợp sao cho số nang phóng noãn không quá nhiều nhằm hạn chế các biến chứng.

Phác đồ ngắn/cực ngắn Phác đồ ngắn hay cực ngắn thường được sử dụng cho những bệnh nhân lớn tuổi, đáp ứng kém với kích thích buồng trứng. Các thuốc GnRH đồng vận (Suprefact, Diphereline) được bắt đầu sử dụng từ ngày 2 của chu kỳ kinh. Tiêm dưới da Suprefact 0,5mg/ngày hay Diphereline 0,1mg/ngày. FSH (Puregon dạng 50 IU hay 100 IU) được sử dụng song song hay chậm hơn 1-2 ngày. Liều khởi đầu của FSH thường sử dụng là 50 IU/ngày. Siêu âm theo dõi nang noãn bắt đầu từ ngày 6 của chu kỳ kinh. Các lần siêu âm sau và liều thuốc tiếp tục được điều chỉnh tùy theo kích thước và số lượng nang noãn phát triển. Tiêm hCG khi có ít nhất 1 nang đạt kích thước 18mm trên siêu âm. Bơm tinh trùng 36 giờ sau tiêm hCG hay 24 và 48 giờ nếu bơm tinh trùng 2 lần trong một chu kỳ. Phác đồ tăng liều dần/giảm liều dần Phác đồ này thường được sử dụng để kích thích buồng trứng ở những bệnh nhân PCOS (nhóm II theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới). Phác đồ tăng liều dần (step-up protocol) Khởi đầu, FSH được sử dụng với liều 50 đơn vị/ngày, liên tục trong 14 ngày. Siêu âm và xét nghiệm nội tiết theo dõi nang noãn được tiến hành lần đầu sau 14 ngày. Nếu vẫn chưa có đáp ứng, nang nhỏ dưới 10 mm trên siêu âm, tăng liều dần 50 đơn vị/ngày cho mỗi tuần, liều tối đa là 200 đơn vị/ngày. Nếu có đáp ứng, nang lớn hơn 10mm, duy trì liều cũ cho đến khi nang noãn đạt đến tiêu chuẩn cho hCG như đã trình bày ở trên. Chu kỳ sẽ bị ngưng điều trị khi không có đáp ứng buồng trứng sau 35 ngày kích thích hay không có nang vượt trội khi đã dùng đến liều tối đa trong một tuần. Phác đồ này sẽ bị ảnh hưởng bởi tuổi, tình trạng béo phì và nồng độ cơ bản của LH. Phác đồ giảm liều dần (step-down protocol) FSH được sử dụng với liều khởi đầu là 150 đơn vị/ngày ngay sau khi người bệnh có kinh tự nhiên hay sau sử dụng progesterone. Liều FSH được duy trì cho đến khi có một nang vượt trội trên 10mm trên siêu âm. Sau đó, liều FSH được giảm 50 đơn vị/ngày mỗi 3 ngày, cho đến khi liều sử dụng là 50 đơn vị/ngày và nang noãn đạt đến tiêu chuẩn thì cho hCG. Phác đồ tăng liều dần an toàn và hiệu quả hơn phác đồ giảm liều dần nhưng chi phí cao hơn do thời gian điều trị kéo dài. Kích thích buồng trứng để làm thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) Để một chu kỳ IVF có hiệu quả, số lượng nang noãn trung bình cần đạt được sau kích thích buồng trứng là 8 – 10 nang noãn trưởng thành. Các phác đồ kích thích buồng trứng hiện tại được sử dụng trong IVF là phác đồ dài với sự kết hợp của GnRH đồng vận và FSH tái tổ hợp và phác đồ ngắn với sự sử dụng GnRH đối vận và FSH tái tổ hợp. Phác đồ dài với sự sử dụng kết hợp GnRH đồng vận (GnRHa) và FSH tái tổ hợp (rFSH). - GnRHa thường sử dụng trước trong 14 ngày từ ngày 21 của chu kỳ kinh trước, hay từ ngày 1 của chu kỳ kinh hiện tại (giai đoạn Insulin): Suprefact 6mg: tiêm dưới da mỗi ngày 0,5mg trong 14 ngày. Diphereline 0,1mg: tiêm dưới da mỗi ngày 1 ống trong 14 ngày. - Định lượng LH, E2 vào ngày thứ 14 sử dụng GnRHa. Khi LH < 5 IU/l và E2<100 pg/ml, bắt đầu kích thích buồng trứng với rFSH (Puregon 100 IU hay 50 IU) (giai đoạn II). Khi này, liều GnRHa thường được giảm xuống còn phân nửa và liều rFSH được sử dụng tùy theo tuổi bệnh nhân, chỉ định điều trị và sự đáp ứng của buồng trứng với thuốc kích thích buồng trứng. - Theo dõi siêu âm nang noãn được bắt đầu vào ngày 6 sau khi sử dụng kết hợp cả rFSH với GnRHa. Sau đó, siêu âm được tiến hành mỗi ngày hay mỗi 2-3 ngày tùy theo kích thước của nang noãn. Thông thường, thời gian kích thích buồng trứng của giai đoạn II kéo dài 10-12 ngày. - Tiêm hCG khi có ít nhất 2 nang noãn lớn nhất đạt đến kích thước 17mm trên siêu âm. Chọc hút trứng được thực hiện khoảng 34-36 giờ sau tiêm hCG. Phác đồ ngắn với sự sử dụng kết hợp GnRH đối vận (GnRH antagonist) và rFSH Các chất đối vận GnRH được sử dụng phối hợp với rFSH có thể theo cách sử dụng một liều duy nhất hay đa liều; theo thời điểm ổn định của chu kỳ kích thích buồng trứng hay theo sự đáp ứng của từng bệnh nhân. FSH được sử dụng từ ngày 2-3 của chu kỳ kinh nguyệt, đến ngày 7 của chu kỳ, GnRH đối vận được sử dụng liều duy nhất 3mg tiêm dưới da. Theo dõi tiếp tục sự phát triển nang noãn, hCG được sử dụng khi nang noãn đạt đến kích thước trưởng thành như các phác đồ khác. Với cách sử dụng đa liều, GnRH được sử dụng từ ngày 6 của chu kỳ, tiêm dưới da mỗi ngày 0,25mg, theo dõi sự phát triển nang noãn và sử dụng hCG khi các nang noãn đạt tiêu chuẩn. GnRH đối vận khi được tiêm vào cơ thể có tác dụng ức chế ngay sự xuất hiện của đỉnh LH sớm. Sử dụng GnRH đối vận có nhiều ưu điểm so với phác đồ dài cổ điển: (1) thời gian kích thích buồng trứng rút ngắn từ trung bình 4 tuần xuống chỉ còn 10 ngày; (2) số đơn vị rFSH cần sử dụng ít hơn; (3) tỉ lệ quá kích buồng trứng thấp hơn. Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu GnRH đối vận để tạo hiệu quả tối ưu vẫn còn đang được bàn cãi.

Tài liệu tham khảo - Thụ tinh nhân tạo. Nhà xuất bản Y học (2002): 51-74 - Principles and Practice of Assisted Human Reproduction. Wb Sauders Company, Philadelphia (1995): 233-284. - Human Reproduction (1995), suppl 1:90-102.

See Other Items:
 
1. Điều trị vô sinh chưa rơ nguyên nhân bằng kỹ thuật IUI
2. Hỏi & đáp về buồng trứng đa nang (PCOS)
3. Các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
4. Hội chứng buồng trứng đa nang
5. Vai tṛ của METFORMIN trong buồng trứng đa nang (PCOS)
 
 
  » see other items  
 
 
KIẾN THỨC TỔNG QUÁT
 

KIẾN THỨC TỔNG QUÁT
 
CHUẨN BỊ CHO QUÁ TR̀NH THỤ THAI VÀ SINH CON
SINH LƯ QUÁ TR̀NH THỤ THAI VÀ MANG THAI
ĐỂ LÀM MẸ BẠN CẦN BIẾT:
SINH CON THEO Ư MUỐN
CHĂM SÓC BÀ MẸ MANG THAI VÀ TRẺ SƠ SINH
Những điều cần biết về giải phẫu cắt bỏ bộ phận sinh sản
Chuẩn Bị Giải Phẫu
Đếm chuyển động của thai nhi
» Read All
 
 
New Page 1
 
  Trang Nhà  Giới Thiệu  Thông Báo  Lời Chứng  Photo New Baby  Kiến Thức  Liên Lạc